Ẩn mình giữa núi rừng Bá Thước, xã Cổ Lũng là một vùng đất mang vẻ đẹp nguyên sơ hiếm có, nơi thiên nhiên hùng vĩ hòa quyện cùng nét văn hóa độc đáo của người dân bản địa. Những dòng suối trong vắt, cánh rừng xanh mướt và các huyền thoại truyền đời khiến nơi đây trở thành điểm dừng chân lý tưởng cho những ai yêu thích khám phá. Hãy cùng bước vào hành trình tìm hiểu xã Cổ Lũng qua những địa điểm nổi bật sau:
THÁC HIÊU – TUYỆT TÁC THIÊN NHIÊN GIỮA LÒNG ĐẠI NGÀN PÙ LUÔNG
Thác nước kỳ vĩ chảy suốt bốn mùa không cạn độc đáo nhất xứ Thanh
Thác Hiêu Pù Luông thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, thuộc xã Cổ Lũng, huyện Bá Thước của tỉnh Thanh Hóa.
Ẩn mình giữa vẻ đẹp nguyên sơ và kỳ vĩ của khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, Thác Hiêu – thuộc xã Cổ Lũng, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa – được ví như một viên ngọc bích quý giá của xứ Thanh. Với dòng thác mềm mại như dải lụa bạc, tiếng nước reo vang hòa cùng bản nhạc thiên nhiên du dương, nơi đây là điểm đến lý tưởng cho những ai khao khát tìm về với sự tinh khiết của đất trời.
Vị trí và cảnh quan
Thác Hiêu là thác ở vùng đất bản Hiêu, xã Cổ Lũng, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam. Thác Hiêu nằm trong vùng lõi Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, giáp ranh với tỉnh Hòa Bình. Suối Bản Hiêu bắt nguồn từ dãy núi đá vôi của khu bảo tồn, có thủy vực rộng và nhiều vị trí chảy ngầm qua hang Karst. Chiều dài dòng thác khoảng 800 m. Dòng nước chảy đến lưng chừng núi thì tách ra thành hai nhánh, đổ về 2 hướng khác nhau và hợp lại ở cuối dòng. Với cảnh vật hoang vu, đường đi quanh co lên xuống khúc khuỷu trong cánh rừng già, thích hợp cho người ưa mạo hiểm khám phá.
Vẻ đẹp thơ mộng mỗi buổi sớm của Thác Hiêu
Vào mỗi buổi sáng, khi ánh mặt trời len qua từng tán lá, những giọt sương còn vương trên lá cỏ và dòng thác lung linh tựa như được dát vàng, tạo nên một khung cảnh huyền ảo khiến bất kỳ ai cũng phải ngẩn ngơ. Vẻ đẹp của Thác Hiêu là sự hòa quyện hoàn hảo giữa nét hoang sơ, hùng vĩ và sự dịu dàng, thơ mộng hiếm nơi nào có được.
Đặc điểm độc đáo
Thác Hiêu mang đến một trải nghiệm độc đáo với dòng nước trong vắt quanh năm, không bao giờ cạn, kể cả trong những ngày hè oi ả hay mùa khô khắc nghiệt. Nước ở đây được ví như “dòng nước ngọc” bởi sự tinh khiết đến lạ kỳ. Khi ánh nắng chiếu xuống, từng dòng nước phản chiếu ánh sáng tựa pha lê, đẹp đến ngỡ ngàng.
Dòng thác chia thành hai nhánh. Một nhánh đổ thẳng từ trên cao xuống tạo thành màn nước trắng xóa, sôi động và mạnh mẽ như sức sống của đại ngàn. Nhánh còn lại dịu dàng hơn, uốn lượn qua những tầng đá vôi, tạo thành các bậc thang tự nhiên và những hồ nước nhỏ xinh, nơi du khách có thể thả mình thư giãn trong làn nước mát lành.
Hệ sinh thái đa dạng và phong phú
Khu vực quanh Thác Hiêu là một phần của khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, nơi lưu giữ sự đa dạng sinh học tuyệt vời. Cánh rừng nguyên sinh với những loài cây cổ thụ cao lớn và dây leo uốn lượn mang đến cảm giác huyền bí, như thể bạn đang bước vào một câu chuyện cổ tích giữa đời thực.
Nơi đây còn là nơi sinh sống của nhiều loài động vật quý hiếm, từ những chú chim nhỏ như chim khướu, sáo đen, cho đến những loài bò sát độc đáo như tắc kè hoa hay rắn ráo trâu. Âm thanh của thiên nhiên – tiếng thác Hiêu ào ào đổ xuống, tiếng chim rừng ríu rít và tiếng côn trùng rả rích lúc chiều tà – tất cả hòa quyện lại, tạo nên một bản hòa ca đầy mê hoặc giữa núi rừng Bá Thước
Sự tích bản Hiêu, thác Hiêu
Không chỉ sở hữu vẻ đẹp mê hoặc lòng người, thác Hiêu Pù Luông còn ẩn chứa trong mình một sự tích ly kỳ, được lưu truyền qua bao thế hệ bởi các mế già bản Hiêu.
Chuyện kể rằng, ngày xửa ngày xưa, có một chàng trai nghèo hiền lành tên Lắc, sinh sống tại bản Leo. Khi đến tuổi dựng vợ gả chồng, Lắc quyết tâm tìm kiếm một người con gái để cùng chung xây dựng tổ ấm. Chàng trai vượt qua bao dốc núi, con suối, cuối cùng đặt chân đến bản Đốc, nơi có tiếng lành về những cô gái xinh đẹp, đảm đang.
Mải miết trên hành trình gian nan, Lắc cảm thấy mệt mỏi và dừng chân nghỉ ngơi bên bờ suối. Dòng suối hiền hòa, êm đềm như ôm ấp chàng trai vào lòng. Xung quanh, cảnh vật thiên nhiên tươi đẹp với những thửa ruộng bậc thang xanh mướt, những tán cây cổ thụ rợp bóng mát. Lắc cảm thấy vô cùng thích thú và quyết định chọn nơi đây để sinh sống.
Sau khi tìm được ý trung nhân, Lắc cùng người vợ về dựng nhà bên bờ suối. Cuộc sống của họ tuy đơn sơ, bình dị nhưng tràn đầy hạnh phúc. Khi cha mẹ và dân bản đến chúc mừng tân gia, họ vô cùng ngỡ ngàng khi nhìn thấy một đàn hươu lớn đang thong dong uống nước tại suối.
Tin rằng đây là điềm lành cho sự khởi đầu mới, cha vợ Lắc đề nghị đặt tên cho suối là "Suối Hươu". Cùng với thời gian, dân cư trong bản ngày càng đông đúc,hình thành nên bản Hươu. Sau này, do cách phát âm, tên gọi "Bản Hươu" dần được đọc chệch thành "Bản Hiêu", và cái tên này cũng được áp dụng cho thác nước hùng vĩ nơi đây.
Hành trình khám phá vẻ đẹp của Thác Hiêu
Đến Thác Hiêu, du khách sẽ có cơ hội hòa mình vào thiên nhiên và trải nghiệm những hoạt động du lịch sinh thái hấp dẫn.
• Trekking xuyên rừng: Con đường dẫn đến Thác Hiêu như một thử thách dành cho những tâm hồn yêu thích phiêu lưu. Bạn sẽ đi qua những con đường mòn nhỏ, xuyên qua rừng cây rậm rạp, tận hưởng cảm giác mát lành từ những cơn gió mang theo hơi thở của rừng.
• Khám phá văn hóa bản địa: Gần khu vực thác là các bản làng của người dân tộc Thái với những ngôi nhà sàn mộc mạc, giản dị. Du khách có thể trải nghiệm cuộc sống thường nhật, thưởng thức những món ăn truyền thống như cơm lam, gà nướng, rượu cần và lắng nghe những câu chuyện thú vị về phong tục, tập quán của người dân nơi đây.
• Tắm thác và thư giãn: Những hồ nước tự nhiên được hình thành từ dòng chảy của thác là nơi lý tưởng để bạn thả mình trong làn nước mát lạnh, xua tan mọi mệt mỏi.
Thời điểm lý tưởng để tham quan Thác Hiêu
Mỗi mùa trong năm, Thác Hiêu đều mang một vẻ đẹp riêng. Tuy nhiên, thời điểm đẹp nhất để khám phá nơi đây là vào mùa hè, từ tháng 5 đến tháng 8, khi dòng thác đầy nước và khung cảnh thiên nhiên rực rỡ nhất. Vào mùa thu, khu vực này khoác lên mình màu sắc dịu dàng, thanh bình, phù hợp cho những chuyến nghỉ dưỡng cùng gia đình hoặc bạn bè.
Hướng dẫn di chuyển
Từ Hà Nội, du khách có thể di chuyển bằng xe máy hoặc ô tô qua quốc lộ 6 đến Hòa Bình, sau đó tiếp tục theo quốc lộ 15C để đến huyện Bá Thước. Con đường dẫn vào Thác Hiêu không quá gập ghềnh, nhưng những khúc cua uốn lượn qua các dãy núi sẽ mang lại cảm giác phấn khích khó quên.
Lưu ý khi tham quan
• Hãy chuẩn bị giày thể thao hoặc giày chuyên dụng để dễ dàng di chuyển qua các đoạn đường rừng núi.
• Tuân thủ các quy định bảo vệ môi trường, không xả rác và không làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái.
• Nên mang theo đồ ăn nhẹ, nước uống và các vật dụng cần thiết khi trekking hoặc tham quan dài ngày.
Kết thúc hành trình tại “viên ngọc bích” của xứ Thanh
Thác Hiêu không chỉ là một điểm đến, mà còn là một món quà mà thiên nhiên ban tặng cho con người. Sự hùng vĩ, thơ mộng và yên bình nơi đây mang lại những cảm xúc khó quên, giúp bạn rũ bỏ mọi lo toan và tìm lại sự an yên trong tâm hồn.
Một lần ghé thăm Thác Hiêu là một lần bạn được chạm vào vẻ đẹp thuần khiết của đất trời, một trải nghiệm sẽ mãi đọng lại trong trái tim. Hãy đến và cảm nhận vẻ đẹp diệu kỳ của nơi đây, để hành trình khám phá thiên nhiên của bạn thêm phần trọn vẹn.
MỘ NÀNG MỨN – ĐIỂM GIAO THOA GIỮA THIÊN NHIÊN, VĂN HOÁ VÀ LỊCH SỬ TẠI THÔN EO ĐIẾU
Nằm tại thôn Eo Điếu, xã Cổ Lũng, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa, Mộ Nàng Mứn không chỉ là một di tích lịch sử - văn hóa mà còn là nơi ẩn chứa những giá trị tâm linh sâu sắc. Gắn liền với một truyền thuyết giàu tính nhân văn và bi thương, mộ Nàng Mứn đã trở thành điểm đến thu hút du khách, nơi lưu giữ một phần ký ức và bản sắc văn hóa của vùng đất Pù Luông hùng vĩ.
Sự tích về Nàng Mứn
Truyện thơ Khăm Penh (Khăm Panh) có xuất xứ ở Mường Khoòng, được viết bởi một tác giả khuyết danh sáng tác bằng tiếng Thái, chữ Thái vào khoảng thế kỷ XVI - XVII. Truyện lấy bối cảnh lịch sử xã hội là đất nước, con người vùng Mường Khoòng vào nửa đầu thế kỷ XVI. Nổi bật với một trong ba truyện thơ Thái được nhiều học giả nghiên cứu đánh giá hay nhất Việt Nam là Khăm Panh, câu chuyện xoay quanh hai nhân vật vợ chồng Khăm Panh và Nàng Mứn. Khăm Panh là câu chuyện kể về đôi vợ chồng Khăm Panh, Nàng Mứn có công lớn trong công cuộc xây dựng lại mảnh đất Mường Khoòng từ xơ xác hoang tàn sau cuộc xâm lược của giặc Minh trở thành một Mường khang trang, giàu có.
Nàng Mứn, cái tên Mứn nghĩa là vạn (chục nghìn). Nàng nổi tiếng đẹp người, đẹp nết, ví von cái tên thể hiện Mứn giỏi giang bằng vạn người. Nàng Mứn mang vẻ đẹp tựa như cô gái của đại ngàn, tóc Nàng tựa như sóng nước, mỗi bước chân nàng đi tới trống chim công nhảy múa, tiếng nói thì tựa nước đùa bên suối, da dẻ trắng ngần sáng trong.
Nàng đã thuyết phục mọi người đang ly tán, tha phương trở về, gây dựng lại Mường Khoòng. Nàng hướng dẫn, phân việc cho người dân khai hoang, vỡ ruộng, dựng nhà, đúc súng, rèn dao, vót tên, đặt bẫy. Nhờ đó thêm phần bảo vệ và gây dựng cuộc sống tại Mường Khoòng. Sau một thời gian thì Mường Khoòn trở nên giàu có, bọn giặc Hán, giặc Hó khó lòng buông tha sự yên bình này.
Khun Ha - nội gián quân Hó, giả vờ xin làm thợ bạc ở Mường Khoòng, đánh lừa Khăm Panh, Nàng Mứn lấy con gái hai người Khăm Sao làm vợ. Sau khi nắm chắc tình hình, Khun Ha trở mặt, bắt ép Khăm Sao tự vẫn, trở về Mường Hán, Mường Hó mang quân trở lại xâm chiếm Mường Khoòng. Giặc quá đông, dân Mường Khoòng phải chạy vào rừng chờ thời cơ. Vợ chồng Khăm Panh, Nàng Mứn lúc ấy đã tuổi cao, sức yếu, lại bị cú sốc con gái chết oan, con rể làm giặc, Khăm Panh hấp hối trong vòng tay Nàng Mứn.
Mai táng chồng xong, Nàng Mứn cầm gươm, cưỡi ngựa, dẫn quân từ Eo Điếu xông ra tiến đánh Khun Ha. Khí thế oai phong của Nàng Mứn và tinh thần quả quyết của người dân Mường Khoòng đã làm Khun Ha khiếp sợ phải dùng mưu kế phục kích bắn lén. Nàng Mứn bị tên nỏ trọng thương. Quân Mường Khoòng đưa Nàng về Eo Điếu chữa trị. Trong những phút giây cuối của đời mình, Nàng không quên dặn dò các em chồng và con cháu tiếp tục chiến đấu. Dân Mường Khoòng làm lễ mai táng Nàng Mứn tại nghĩa địa bản Eo Điếu, dưới chân núi Pha Háng.
Không lâu sau khi Nàng mất, Khun Ha cai trị Mường Khoòng, tiêu diệt nòi giống Khăm Panh, chỉ còn một người con dâu mang bầu chạy thoát. Người con dâu lạc vào rừng đêm tối, bỗng nhận ra mộ mẹ chồng (mộ Nàng Mứn) liền khấn xin chỉ đường đường để giữ được giọt máu cuối cùng của gia đình Khăm Panh. Từ ngôi mộ, một con đom đóm sáng rực như ánh lửa dẫn đường về quê mẹ Mường Danh. Về sau, người con dâu sinh được một người con trai, đặt tên Khăm Khong. Khăm Khong luôn nuôi ý chí phục thù, lớn lên mang quên về đánh tan Khun Ha, giải phóng Mường Khoòng.
Một tài liệu khác, sách chữ Thái lưu tại Mường Hạ (Mai Châu, Hoà Bình) ghi lại gia phả tộc dòng họ Hà Công, viết rằng Khăm Panh là hậu duệ dòng họ Hà. Nàng Mứn là vợ của Khăm Panh, cùng mẹ xuống khôi phục Mường Khoòng sau khi loạn giặc bị bỏ hoang. Từ đó, có thể thấy rằng Nàng Mứn có thể vừa là một con người có thật vừa là một hình tượng văn học được tác giả tạo nên.
Hiện trạng ngôi mộ
Ngôi mộ được mai táng theo tập quán người Thái Đỏ (Tày Đènh). Trong sách có ghi chép, mộ ban đầu được đắp cao hơn xung quanh, đổ than củi lên trên, đặt một vỏ sành đựng nước phía chân, xung quanh chôn đá đánh dấu.
Đá đánh dấu được gọi là
hin hong
, ít nhất từ 4 phiến trở lên gồm 1 phiến trên đầu, 1 phiến dưới chân và các phiến canh sườn. Phiến trên đầu cao hơn các phiến đá khác. Đá
hin hong
là loại đá xanh, cứng, không bị bào mòn, hòn dài, lép, đầu nhọn, tuỳ theo gia đình mà chọn kích cỡ đá phù hợp.
Mộ Nàng Mứn hiện nay
Nhà mồ làm bằng gỗ, tre, nứa gồm mái lợp và khung mộ. Khung mộ gọi là
khóp hạc
hình chữ nhật, đóng bằng gỗ, ván, cao khoảng 8 phân, rộng, dài tuỳ theo hình mộ. Trên khung mô có một đoạn bắc ván ngang để đặt đồ của người chết mang theo. Phần mái gồm hai cột gỗ chắc (thường là gỗ cây kiêng - nghiến) gọi là xàu chay để làm đòn nóc. Mái lợp bằng nứa cây, đập dập, uốn gập ở giữa. Đặt nứa lên đòn nóc, chồng vào nhiều lượt, thành mái hình tam giác che kín cả ngôi mộ.
Trải qua năm trăm năm, mộ Nàng Mứn đã biến dạng nhiều, chỉ còn một vài cột đá đánh dấu mộ. Mỗi khi có việc thờ cúng tổ tiên, người ta đều trân trọng mời đón linh hồn Nàng Mứn về dự lễ tiệc, cầu mong được Nàng phù hộ an lành.
Hình ảnh chân thực mộ Nàng Mứn sau hàng trăm năm
Quang cảnh khu vực mộ Nàng Mứn (bụi tre)
Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa – tâm linh
Mộ Nàng Mứn, với giá trị lịch sử, văn hóa và vị trí độc đáo, là điểm đến tiềm năng cho các chương trình du lịch kết hợp khám phá văn hóa – sinh thái tại Bá Thước. Việc đưa di tích này vào các tuyến du lịch cùng các điểm đến nổi tiếng khác như khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông hay các làng nghề truyền thống sẽ tạo ra một hành trình đa dạng, thu hút nhiều du khách hơn.
Đoàn khảo sát mộ Nàng Mứn, do ông Lê Huy Hoàng, chủ tịch hội Khoa học Lịch sử Bá Thước dẫn đầu.
Mộ Nàng Mứn tại thôn Eo Điếu, xã Cổ Lũng, huyện Bá Thước là sự kết hợp hoàn hảo giữa giá trị văn hóa, lịch sử và vẻ đẹp thiên nhiên. Việc bảo tồn và phát huy giá trị của mộ Nàng Mứn không chỉ góp phần giữ gìn di sản văn hóa dân tộc mà còn mở ra cơ hội lớn để phát triển du lịch bền vững cho huyện Bá Thước.
ĐỒN CỔ LŨNG - DẤU ẤN LỊCH SỬ
Nằm bên tả ngạn sông Mã, cách trung tâm thành phố Thanh Hóa 130km về phía Tây Bắc có một đài tưởng niệm mang phong vị hoài cổ mà kiêu kỳ, đứng sừng sững hiên ngang cùng núi rừng Pù Luông, tưởng nhớ chiến công đời đời của các anh hùng đã ngã xuống nơi đây. Đó là đài tưởng niệm xã Cổ Lũng, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.
Ý nghĩa lịch sử
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược, miền Tây Thanh Hóa có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, là cửa ngõ tiếp giáp với nước bạn Lào, cầu nối liên thông với các tỉnh Nghệ An, Hòa Bình, Sơn La tạo thành một hành lang phía Tây. Nhằm uy hiếp vùng đồng bằng trung du Thanh Hóa, thực dân Pháp đã tiến quân đến mảnh đất miền Tây. Trong đó, xã Cổ Lũng (tiền thân của xã Quốc Thành thời kỳ đó) là đầu mối giao thông chiến lược, là cung đường dễ dàng xuôi ngược Vạn Mai – Suối Rút, lên Tây Bắc, sang Hòa Bình, vào Nghệ An và đặc biệt là con đường thông thương sang Sầm Nưa (Lào). Là vùng đất có giao thông thuận lợi, tiềm năng kháng chiến với sức người, sức của dồi dào, xã Cổ Lũng đã phải hứng chịu hai lần bị bọn thực dân chiếm đóng và là vùng đất nằm trong mục tiêu chiếm đóng lâu dài của thực dân Pháp với tham vọng bá chiếm Đông Dương.
Lịch sử ghi lại, lần thứ nhất, giặc Pháp chiếm đóng ở Cổ Lũng vào 5/1947. Từ Lào thực dân Pháp chia làm 3 mũi dọc theo sông Mã, sông Luồng, sông Lò kéo xuống đánh chiếm Hồi Xuân, La Hán, quân Pháp cho một mũi thọc sâu vào Cổ Lũng. Thời gian đầu, nhân dân Cổ Lũng tỏ thái độ bất hợp tác trong phục dịch bọn thực dân, kể đến như không nộp lương thực, thực phẩm cho chúng. Nhận thấy bị cô lập, không đủ sức trụ lại, trung tuần 7/1947, bọn Pháp và gian Lào bỏ đồn dời quân sang Ban Công, định hội quân với đồn La Hán. Thấy thời cơ đã đến, đồng chí Lục Văn Anh dẫn đầu tổ đội du kích đã chặn đầu bọn giặc và bắn hạ một tên lính Pháp cầm súng máy bằng súng mút-cơ-tông, làm bọn thực dân kinh hồn bạt vía phải tháo chạy theo đường Mỏ Bỉ lên Hồi Xuân không dám bén mảng đến La Hán. Đây chính là lời răn đe đầu tiên mà quân và dân Cổ Lũng gửi đến bọn giặc tàn bạo, ngông cuồng.
Vẫn ấp ủ tham vọng bá chiếm Cổ Lũng, thực dân Pháp đã mang quân trở lại vào 8/1948. Lần này, chúng đã huy động một lực lượng đông đảo gồm lính Âu – Phi, lính ngụy Hòa Bình và bọn Lang đạo phản động ở Bá Thước. Chúng tàn nhẫn càn quét, giết trâu, giết bò, vơ vét thóc gạo, tàn phá nhà dân để mang vật liệu lên xây đồn trên đồi Cò Chó. Đồng thời chúng cũng tiến hành gom dân, bắt lính, bắt phụ nữ làm trò tiêu khiển, nhổ lúa, san phẳng cánh đồng Na Tông làm sân bay tiếp tế. Chính những hành động phi nhân tính ấy của chúng đã đẩy cuộc sống của người dân xã Cổ Lũng vào cảnh khổ cực, lầm than.
Căm phẫn trước sự tàn ác, dã man của quân giặc, nhân dân huyện Bá Thước đã liên tục mở các đợt tiến công vào quân lực địch. Kể đến các cuộc phản công, trinh sát ngày 24-25/4/1949, cuối 6/1949, rạng sáng ngày 25/7/1949... Tuy tất cả đều thất bại nhưng những cuộc chiến ấy đã giúp quân ta đúc rút được nhiều bài học xương máu, nhận ra những thiếu sót về chiến lược, lực lượng, đồng thời cũng góp phần tạo nên chiến thắng lâu dài. Vào tháng 10 năm 1949, tia hy vọng mới lại lóe lên trong cuộc chiến đầy cam go, đó là sự lung lay, lục đục nội bộ của quân địch và sự nhậm chức của Phạm Quang Đăng. Sau nhiều lần gửi thư cùng tác động tâm lý, tư tưởng, Mặt trận Ủy ban hành chính huyện Bá Thước đã thành công kéo ông Phạm Quang Đăng về phe mình. Chính điều ấy đã tạo nên bước ngoặt lớn, khởi đầu cho chiến thắng giải phóng đồn Cổ Lũng sau này của quân và dân ta. Vậy là sau 16 tháng đấu tranh đầy vất vả và gian truân, ngày 17/12/1949, quân ta chính thức tiếp quản đồn Cổ Lũng, tạo nên bước tiến lịch sử trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Chiến thắng đồn Cổ Lũng đã chặt đứt một mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ của giặc tạo điều kiện thuận lợi để quân và dân ta mở rộng chiến dịch Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào… Đồng thời sau chiến thắng ấy, quân địch ở các đồn Toàn Thắng, Mường Trang liên tiếp đầu hàng, Bá Thước sạch bóng quân thù, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Tây Thanh Hóa. Chiến thắng đồn Cổ Lũng giúp quân và dân ta đã phá vỡ hoàn toàn tuyến phòng thủ sông Mã của địch, nối thông Thanh Hóa với Thượng Lào, Thanh Hóa với liên khu 3 và chiến trường Bắc Bộ, khai thông đường vận chuyển từ vùng tự do Liên khu 4 với chiến trường Miền Bắc góp phần vào thắng lợi chiến dịch Thu Đông năm 1949 của cả nước.
Đài tưởng niệm
Cuộc chiến đã đi xa nhưng nó đã để lại trong lòng mỗi người con xã Cổ Lũng nói riêng và cả dân tộc Việt Nam nói chung một nỗi đau dài. Biết bao anh hùng đã để lại tuổi trẻ, ký thác lại ước mơ ở mảnh đất nơi đây – mảnh đất miền Tây tỉnh Thanh Hóa nặng nghĩa nặng tình. Để tưởng nhớ công ơn to lớn của các anh, người dân (xã Cổ Lũng, huyện Bá Thước) đã lập đài tưởng niệm, ghi tạc lại những chiến công của những người lính trẻ. Đài tưởng niệm cũng thể hiện cho sự trân trọng, biết ơn mà con cháu đời sau dành đến cho các anh – những người lính cụ Hồ.
Giữ gìn và phát huy truyền thống của cha ông
76 năm kể từ ngày giải phóng đồn Cổ Lũng (17/12/1949), xã Cổ Lũng đã có nhiều đổi thay nhưng lòng tự hào, tự tôn dân tộc trong cuộc chiến ngày 17 đó vẫn vẹn nguyên, còn mãi. Đảng bộ và nhân dân xã Cổ Lũng không ngừng phát huy tinh thần cách mạng, truyền thống đoàn kết dân tộc trong đấu tranh và xây dựng quê hương đất nước.
Trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, xã Cổ Lũng luôn nỗ lực xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng, huy động tối đa sức người, sức của cho chiến trường, phát huy tinh thần đoàn kết chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Phát huy truyền thống anh dũng trong cuộc kháng chiến chống Pháp, dân và quân xã Cổ Lũng đã góp sức mình cùng toàn dân tộc đánh đuổi giặc Mỹ - Diệm, có thể kể đến như phong trào tăng gia sản xuất, phong trào quần chúng, dân vận... Bên cạnh đó, xã được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân” trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Trong hòa bình, xã Cổ Lũng tích cực xây dựng quê hương, bảo vệ Tổ quốc, phát huy tinh thần đoàn kết, sáng tạo của dân tộc Việt Nam. Bên cạnh đó, đời sống của người dân trong xã không ngừng được nâng lên, cải thiện, văn hóa – xã hội được kế thừa và phát huy, quốc phòng – an ninh được giữ vững. Hiện nay, xã Cổ Lũng đã và đang trở thành một địa điểm du lịch hấp dẫn, nơi mà các du khách có thể hòa mình vào thiên nhiên núi rừng Pù Luông, dạo chơi ruộng bậc thang và được lắng nghe chiến tích anh hùng trên mảnh đất phía Tây tỉnh Thanh Hóa.
NHÀ PHỦ MƯỜNG KHOONG
Mảnh đất Mường Khoòng
Theo lý giải của người dân địa phương, cái tên gọi Mường Khoòng có nghĩa là “Mường có nhiều của cải”. Sách Địa chí huyện Bá Thước ghi lại: “Thung lũng thấp nằm dọc theo suối Nủa, suối Khanh, suối Ngài, tạo thành cánh cung giương về phía Tây ôm lấy khối núi đá vôi khổng lồ Pha Háng. Khu vực ba con suối Nủa, Khanh, Ngài gộp lại, thung lũng mở rộng thành bản xóm, đồng ruộng của trung tâm Mường Khoòng… quê hương lâu đời của người Thái”. Và ít ai biết Cổ Lũng được xem là trung tâm của đất Mường Khoòng xưa.
Những nếp nhà sàn đơn sơ, êm đềm giữa vạn vật trời đất
Mường Khoòng là vùng đất cổ xưa, và là quê hương của người Thái. Người ta truyền tai nhau người Thái sinh sống nơi đây chịu thương, chịu khó, lại rất giỏi ăn nói, khéo léo, đảm đang. Đặc biệt là người phụ nữ Thái vẫn thường tự hào khi được “so sánh” với Nàng Mứn (người phụ nữ phi thường trong truyện thơ Khăm Panh): giỏi như Nàng Mứn, đẹp như Nàng Mứn, khéo như Nàng Mứn… đó phải chăng cũng là “nguồn lực” nhân văn cho sự phát triển của vùng đất Mường Khoòng - nhà nghiên cứu văn hóa Hà Nam Ninh chia sẻ suy nghĩ.
Ông Hà Nam Ninh bên cuốn sách chữ Thái cổ
Về với đất Mường Khoòng, du khách không chỉ được đón nhận sự hậu đãi của thiên nhiên khi được hòa mình vào cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, khí hậu trong lành mà còn được lắng nghe những câu chuyện truyền thuyết, những trang anh hùng hào kiệt cùng với nét văn hóa Thái đặc sắc qua lời kể của người dân nơi đây. Bên cạnh đó, du khách còn khó có thể kiềm lòng trước những đặc sản trứ danh của núi rừng. Nào là xôi nếp trồng ở ruộng lúa Nồng Ban, còn có vịt Cổ Lũng - giống thủy cầm đặc sản bản địa, nổi tiếng thơm ngon… Tất cả đã tạo nên giá trị, sức hấp dẫn riêng của đất cổ Mường Khoòng nơi miền Tây xứ Thanh.
Bản làng yên bình Mường Khoòng
Nhà phủ Mường Khoòng bản lọng
Sách Thái cổ ghi lại Mường Khoòng có tên gọi là Mường Luông hay phủ Mường Khoòng. Trong tâm thức người xưa Mường Khoòng và nhà phủ luôn gắn với nhau như hình với bóng. Có thể nói Mường Khoòng và nhà phủ là biểu tượng sinh hoạt văn hóa không gì thay thế được của người dân nơi đây. Tuy nhiên, sự tàn phá khốc nhiệt của chiến tranh và sự mai một theo năm tháng đã khiến cho nhà phủ hiện nay chỉ còn được lưu giữ lại trong tâm thức của những đấng bậc cao niên. Nền đất nơi thờ cúng nhà phủ giờ đây đang nằm bên cạnh con đường liên xã, ở cuối bản Thung giáp với bản Nang, xã Cổ Lũng, huyện Bá Thước.
Dấu tích sách Thái cổ
Tư liệu xưa ghi lại nhà phủ Mường Khoòng được dựng dưới chân núi bản Thung, trên một khoảnh đất cao, tương đối bằng phẳng, nhìn ra cánh đồng Nong Bang, cách dòng suối Nủa vài chục mét. Nhà Phủ được xây dựng theo kiểu nhà sàn truyền thống của người dân Mường Khoòng, gồm 3 gian, lợp lá cọ, cột chôn bằng gỗ kiêng vững chắc. Sàn lát bằng tre là ngà. Xung quanh thưng ván nửa dưới, còn nửa trên đan thưa như vách thưng các nhà thờ thần khác. So với nhà 3 gian thông thường thì nhà Phủ có phần rộng hơn đáng kể.
Trong lòng nhà để sàn trống, không có ngăn vách, nhưng vẫn bài trí theo từng gian. Phía trên cùng của mỗi gian đặt một cái bàn thờ, trên mỗi bàn thờ đặt 1 cái ngai, sơn son thếp vàng, tay ngai có hình rồng. Bàn thờ ở gian giữa là để thờ vua, bên phải thờ ông Quốc công, bên trái thờ ông Hà Thọ Lộc. Bốn cái lọng cắm xen kẽ giữa hai bàn thờ. Mỗi bàn thờ có hai câu đối. Dựa vào vách có gươm, giáo, bát xà mâu. Phía cuối nhà treo một trống đồng, một trống đại sơn son thếp vàng, một trống con. Dưới gầm sàn đặt hai cái sanh lớn.
Trước nhà đặt hai con voi, hai con ngựa đá. Con voi đá nặng khoảng năm, sáu tạ; ngựa đá nặng khoảng ba, bốn tạ. Hai con voi đá và hai con ngựa đá đặt vào từ thời Đô đốc Hà Mỹ Hào (con ông Hà Thọ Lộc), lấy từ núi Nhồi (huyện Đông Sơn), chở bằng thuyền theo sông Mã, đến cửa suối Nủa thì đặt lên bè cho trâu kéo, đoạn nào đường khó thì tời và khiêng bộ. Ngoài cổng đi vào dựng một bia đá ghi lại sự tích nhà Phủ bằng chữ Nho. Nhưng hiện nay Nhà Phủ chỉ còn rải rác tàn tích.
Hiện vật còn sót lại mang dấu tích của nhà phủ Mường Khoòng.
Dấu ấn lịch sử
Theo cuốn sách cổ vào một thời loạn lạc, ở Mường Khoòng, xuất hiện một người phụ nữ mang thai chạy đến xin cứu vớt. Ông Mường Khoòng (Hà Nhân Chính) thuộc dòng họ Kha Khun, thương hại nhưng sợ bị lộ, không dám giữ lại vùng Mường, liền chỉ lối cho vào trong vùng rừng sâu, núi cao. Người phụ nữ lần mò đến bản Dôộc (Dôộc tiếng địa phương nghĩa là con Vượn), một bản hẻo lánh, xung quanh chỉ toàn khỉ, vượn. Ông quan bản Dôộc (Dộc) Hà Văn Yên là người có đức độ, hay thương người nên đã đem người phụ nữ giấu vào hang đá, hàng ngày mang cơm đến nuôi, đến ngày sinh hạ một bé trai, ông lại cất công đi khắp vùng tìm hiểu thân thế cho đứa trẻ.
Quan Dộc lại tiếp tục nuôi giấu mẹ con đứa trẻ suốt nhiều năm nữa trong hang đá.
Năm 1533, khi cậu bé đã lớn khôn, được quan Tày Ngự (Nguyễn Kim) cùng các đại thần nhà Lê đến đón đi làm vua thì người dân mới biết về thân thế của cậu. Do được nuôi giấu trong hang suốt nhiều năm, nên bà con gọi cậu là Chù Chốm (nghĩa là Giấu Trộm), sang tiếng Kinh thì chệch thành Chúa Chổm. Nhà vua cũng tôn kính gọi quan Dộc là bố nuôi. Sau đấy, ông Mường Khoòng làm một dinh phủ để rước vua ra lo việc nước. Chọn nơi trung tâm Mường Khoòng, chỗ gặp nhau của ba con đường từ các bản khu Chiềng lên, bản Lặn sang và Piềng Dồn xuống để làm dinh phủ. Ông Mường Khoòng được giao trông coi công việc trong nội phủ, được phong chức là Tư đồ Nội dinh.
Trong cuốn sách cổ đã kể đến công trạng của hai cha con Hà Nhân Chính và Hà Thọ Lộc (Thái Ý Lân) đối với triều đình Nam Triều trong thế kỷ thứ XVI. Hà Nhân Chính đã phối hợp với Nguyễn Kim và Trịnh Kiểm, đưa hoàng tử Lê Duy Ninh đang ẩn náu ở Mường Khoòng ra dinh phủ để tập hợp lực lượng “phù Lê diệt Mạc”. Ông đã có công liên hệ với các tạo Mường Hạ, Mường Mộc, Mường Sang hưởng ứng theo vua. Kết thúc cuộc chiến tranh nhà Mạc, nhà vua tổ chức thưởng công Đại Hán, Mường Khoòng được công đầu.
Các thứ vua cho mang về có cả bốn cái tán vàng, ba cái xiêu vàng, hai đôi tượng, hai đôi vạc, một cái trống đồng. Hà Thọ Lộc mang về Mường Khoòng, truyền cho người dân ở các bản đến dựng lên một cái đình ở nơi dinh phủ cũ để thờ cúng. Trước đó, tòa phủ này do cha ông là Hà Nhân Chính dựng lên, để vua Lê và các trọng thần như Nguyễn Kim, Trịnh Duy Thuân, Trịnh Kiểm... luận bàn việc nước. Đây là vị trí hết sức thuận lợi, an toàn cho các hoạt động bí mật, quan trọng trong thời gian ngắn. Dân Mường Khoòng gọi đình là nhà phủ. Làm xong nhà phủ, Hà Thọ Lộc truyền cho dân đến tế phủ, mỗi bản làm một mâm cơm đặt lên cúng tế. Trước khi tế nhà phủ phải tế thần Long Vương ở Mó Nủa và thần Pu Mới ở Xộp Ngài. Từ đó thành lệ, truyền đi mãi mãi.
Di tích sót lại
Nhà phủ thật sự là một nơi thờ tự tín ngưỡng dân gian gắn liền với lễ hội văn hóa của cộng đồng bản Mường. Tiếc rằng, trải qua sự biến thiên của thời gian cùng với những biến động của lịch sử nên lúc bấy giờ, nhà phủ đã không còn giữ được nguyên vẹn và gần như bị lãng quên. Hiện nay dấu tích chỉ còn mấy gốc cột gỗ lõi bị cháy cụt phần trên mặt đất và một con ngựa đá, một con voi đá được chuyển đến sân Trường phổ thông THCS Cổ Lũng. Mảnh bia đá của nhà phủ hiện đang được để tạm trong khuôn viên Trường THCS Cổ Lũng hoặc rải rác trong nhà dân.
Tuy không còn tồn tại đến ngày nay nhưng những giá trị văn hóa – lịch sử mà Nhà phủ Mường Khoòng mang lại vẫn vẹn nguyên trong tâm thức của những người Thái cổ xưa, để rồi truyền đến cho con cháu hôm nay lòng biết ơn, sự trân trọng nền văn hiến 4000 năm của dân tộc mà Nhà phủ Mường Khoòng đã góp mình tạo nên.
Con ngựa đá còn sót lại trên nền móng Nhà Phủ xưa.
VỊT CỔ LŨNG - ĐẶC SẢN TRỨ DANH BÁ THƯỚC
Ghé chơi xã Cổ Lũng yên bình nằm bên tả ngạn con sông Mã, bạn đã từng một lần nếm thử “thức quà quý nơi đây”? Một món quà mà thiên nhiên núi rừng Pù Luông bạt ngàn xanh ban tặng, một hương vị đủ sức làm rung động vị giác của những vị khách khó tính nhất. Đó là đặc sản vịt Cổ Lũng.
Vịt Cổ Lũng hay còn gọi là vịt Quốc Thành, vịt Mường Khoòng là giống vịt nhà bản địa có xuất xứ ở địa bàn xã Cổ Lũng thuộc huyện Bá Thước, Thanh Hóa, Việt Nam. Vịt Cổ Lũng là món ăn bản địa nổi tiếng của người Thái tại bản Hiêu, huyện Bá Thước. Loài vịt này có di truyền lâu đời ở bản Hiêu, sau đó mới phát triển và nhân giống ra nuôi tại xã Cổ Lũng. Đây là giống vịt quý hiếm, con giống di truyền có từ lâu đời được các thế hệ người Bá Thước gìn giữ và phát triển đến ngày nay. Vịt Cổ Lũng còn được nhà nước Việt Nam công nhận là một giống vật nuôi nội địa được phép sản xuất, kinh doanh, lưu hành trong lãnh thổ Việt Nam.
Vịt Cổ Lũng
Đặc điểm và chăn nuôi
Nhiều người sẽ dễ nhầm lẫn vịt Cổ Lũng với vịt bầu thông thường ấy nhưng giống vịt này mang những đặc tính riêng biệt, nổi trội hơn tất cả các giống cùng loài.
Vịt Cổ Lũng thường có cổ rụt, chân nhỏ lùn, phần cổ và đầu thường có lông khoang, lông mướt. Con trống thì lông có đuôi xoăn, lông cổ màu xanh, ánh xanh cườm biếc.
Vịt được chăn thả tự nhiên trên các khe suối
Loài vịt này có xương nhỏ, thịt nhiều nạc, hương vị thơm ngon khó loài vịt ở đâu sánh được. Vịt Cổ Lũng nức tiếng thơm ngon, không ngấy và hôi như các loài vịt được chăn nuôi ở vùng khác. Hẳn là thiên nhiên hùng vĩ cùng những dòng suối trong lành đã kiến tạo nên món đặc sản tuyệt vời này ở xứ Thanh. Vịt Cổ Lũng thường được người ta chăn thả ở các khe suối - nơi có nguồn nước sạch, trong vắt bởi vậy mà loài vịt này có khả năng kháng bệnh và chịu bệnh rất tốt, tỷ lệ nhiễm bệnh thấp và có thể dễ dàng thích nghi với điều kiện khí hậu địa phương.
Ẩm thực
Đến Bá Thước ở bản Lọng, Cổ Lũng, du khách sẽ được tiếp đãi món đặc sản thịt vịt Cổ Lũng trứ danh, đặc sản quý của miền sơn cước. Đã là giống vịt thuần chủng lại được bà con chăm chút giữ gìn nên vịt Cổ Lũng mãi giữ được thương vị thơm ngon hấp dẫn.
Vịt Cổ Lũng nức tiếng còn là do cách chế biến của đồng bào dân tộc ở nơi đây. Vịt được chọn thết đãi khách thường là vịt tơ, thân mỡ màu. Con vịt ngon ngay khi làm lông đã biết một phần, bởi khi làm lông vịt rất dễ nhổ, da khô bóng, mình căng tròn. Trước khi mổ được đem rửa bằng nước muối ấm có pha gừng cho sạch, đem treo cho kỳ khô mới đem quay.
Hấp dẫn nhất phải kể đến món vịt quay trứ danh, thịt vịt tươi ngon được người dân nơi đây khéo léo nhồi vào biết bao thứ lá mang hương vị đậm đà của núi rừng miền Tây Bắc, nào là lá móc mật, ngũ vị hương, đường, muối… rồi đem nướng trên lửa than hoa đỏ rực. Cắn một miếng, thịt vịt tươi ngon kết hợp cùng hương vị núi rừng và khung cảnh xanh bạt ngàn của thiên nhiên Phù Luông làm nức lòng người thưởng thức. Đây cũng chính là bí kíp gia truyền của bà con nơi đây.
Tại các khu nghỉ, nhà hàng, du khách có thể trải nghiệm thêm món vịt được nướng bằng lò hoặc than hoa, bếp củi. Khi nướng, lớp mỡ vịt bắt đầu chảy xuống làm than củi thêm đỏ rực, mùi hương tỏa lan thơm phức. Khi chín, thịt vịt chuyển sang màu nâu đỏ cực bắt mắt. Hương vị thơm ngon, thịt chắc nạc và da giòn rụm của Vịt Cổ Lũng khiến cho món ăn trở thành một trải nghiệm tuyệt vời.
Bảo tồn
Tuy là giống vịt quý hiếm, song hiện nay vịt Cổ Lũng đang bị lai tạp với nhiều giống vịt khác. Để bảo vệ giống vịt Cổ Lũng thuần chủng, huyện Bá Thước đã tích cực triển khai nhiều dự án, chính sách, điển hình là dự án “Phục hồi và phát triển giống vịt Cổ Lũng” đã có nhiều bước tiến tốt. Mô hình này nhằm lựa chọn ra giống vịt bố mẹ tốt nhất để duy trì bảo tồn giống vịt thuần chủng. Vịt sẽ vừa được nuôi theo hướng an toàn sinh học vừa chăn thả trên các khe suối tự nhiên. Có lẽ chính những nỗ lực ấy mà giờ đây, khi ghé thăm vùng đất miền Tây tỉnh Thanh Hóa, du khách vẫn có thể vừa thưởng thức món vịt Cổ Lũng thơm ngon, vừa đắm mình vào khung cảnh thiên nhiên tráng lệ nơi núi rừng miền Tây Bắc.
Vịt Cổ Lũng
" Đơn vị thực hiện: Ban truyền thông - Ban liên lạc Đồng hương Sinh viên Thanh Hóa Đại học Kinh tế Quốc dân